Tổng quan về Bảo Thắng
1. Vị trí địa lý:
Bảo Thắng là một huyện biên giới cửa ngõ của thành phố Lào Cai, có diện tích tự nhiên 69.155ha. Phía Bắc giáp với huyện Hà Khẩu (Vân Nam - Trung Quốc) với 7km đường biên giới, phía Đông và Đông Bắc giáp với huyện Bắc Hà và Mường Khương, Phía Nam giáp với huyện Bảo Yên và Văn Bàn, phía Tây giáp với huyện Sa Pa và Tây Bắc giáp với thành phố Lào Cai.
2. Điều kiện tự nhiên:
- Địa hình:
Huyện Bảo Thắng là vùng thung lũng nằm ven hai bên sông Hồng, có độ cao trung bình từ 80m đến 400m, địa hình bao gồm dải thung lũng hẹp, chạy dài ven sông Hồng; Phía Tây là dải núi thấp của dãy núi Phan Xi Păng - Pú Luông; Phía Đông là dải núi thấp của dãy thượng nguồn sông Chảy án ngữ. Đoạn sông Hồng chảy qua huyện dài 42km, chia huyện Bảo Thắng thành 2 khu vực, hữu ngạn và tả ngạn. Khu hữu ngạn có nhiều suối lớn, đều bắt nguồn từ dãy núi Phan Xi Păng, tạo thuận lợi cho giao thông đường thuỷ, như ngòi Bo, ngòi Nhù, suối Nhớn, suối Trát….Nhìn chung các dòng suối đều dốc, lưu lượng nước không đều và vòng vèo trên các sườn núi đồi. Nhiều dòng nước từ trong dòng núi chảy ra liên tục, nhân dân đã tạo mương máng dẫn nước về sử dụng cho sinh hoạt phục vụ đời sống và trồng trọt.
- Tài nguyên khoáng sản:
Phần lớn đất đai của huyện Bảo Thắng là đất lâm nghiệp (rừng và đất) chiếm tới 56.303ha trong tổng diện tích. Toàn huyện chỉ có 3.093,2ha trồng cây lương thực, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày, tập chung chủ yếu ở vùng thung lũng ven sông, suối hoặc trên các bậc thềm phù sa. Số còn lại phần lớn ở Bảo Thắng là đất Pheralit màu đỏ, vàng hoặc vàng đỏ, tầng dầy, cơ giới nặng, thuận lợi cho việc trồng rừng, cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả.
Huyện Bảo Thắng có chiều dài nguyên khoáng sản quý. Mỏ Apatit với trữ lượng lớn, hàm lượng cao, chạy dài hàng chục km, bên hữu ngạn sông Hồng, Apatit ở đây hầu như nguyên chất, trải rộng, không những là tài nguyên quý mà còn giàu độ phì cho đất, rất thuận tiện cho trồng trọt. Bảo thắng còn có các mỏ Cao lanh, Mica, đất sét trắng…
Về lâm sản có các loại gỗ quý như: Lát, Đinh, Lim, Sến….Ngoài ra còn trữ lượng khá lớn về nứa, vầu và các loại gỗ tạp. Tuy nhiên, do khai thác bừa bãi, nạn phá rừng làm lương đã ngày càng thu hẹp diện tích rừng của Bảo Thắng. Một số loài thú quý ngày càng khan hiếm như Hổ, Báo, Gấu…
- Cơ sở hạ tầng:
Về đường giao thông, từ đầu công nguyên đến nay, Bảo Thắng đều nằm trên con đường huyết mạch, nối liền nước ta với Vân Nam - Trung Quốc. Đó là hệ thống đường sông Hồng và đường bộ (thời cận đại về trước nằm bên hữu ngạn sông Hồng). Nằm ở vị trí đầu mối giao thông này, Bảo Thắng luôn là đầu ngõ tiền đồn trọng yếu ở vùng Tây bắc tổ quốc. Nhưng hơn một thế kỷ qua, tuyến giao thông đường bộ dọc hữu ngạn sông Hồng ít được đầu tư phát triển. Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, đường giao thông chủ yếu ở Bảo Thắng là tuyến xe lửa nối liền Vân Nam - Trung Quốc với Hà Nội, Hải Phòng. Từ thời phong kiến Việt Nam và đặc biệt là những năm đầu thế kỷ 20, khi thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa, đường sông Hồng mới được tận dụng triệt để. Từ năm 1966, đường quốc lộ 70 được xây dựng nối thông các huyện, thị biên giới phía Bắc với các huyện phía Nam Lào Cai và xuôi về trung tâm Hà Nội, Bảo Thắng là đầu mối giao thông toả đi 5 huyện, thành phố của khu vực. Tuyến đường từ phía Tây và phía Nam huyện dọc theo hữu ngạn sông Hồng, trong thập kỷ qua, cũng được mở rộng và phát triển nối liền thành phố Lào Cai với khu công nghiệp Tằng Loỏng và Văn Bàn. Hiện nay, Bảo Thắng đã có đường ô tô đến được tất cả 15 xã, thị trấn, đặc biệt tuyến đường sắt ở phía hữu ngạn sông Hồng nối liền Phố Lu với Tằng Loỏng - Cam Đường đã góp phần vào việc thúc đẩy kinh tế Bảo Thắng phát triển mạnh. Bảo Thắng trở thành huyện có hệ thống giao thông phát triển mạnh ở thành phố Lào Cai.
- Khí hậu - thuỷ văn:
Nhiệt độ bình quân của Bảo Thắng trong một năm là 8.0000C, nhiệt độ trung bình/năm từ 22 đến 240C, nhiệt độ thấp dưới 20C, nhiệt độ cao nhất 400C. Hướng gió thịnh hành là hướng gió Đông Nam, tốc độ trung bình từ 1 - 2m/s. Lượng mưa toàn huyện thuộc loại trung bình, khoảng 1.600 đến 1.800mm. Khu vực Phố Lu lượng mưa trung bình hàng năm là 2.016mm. Số ngày mưa trung bình ở Phố Lu là 111 ngày (Số ngày mưa nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8). Số ngày mưa trung bình ở Phú Nhuận là 115 ngày (số ngày mưa nhiều nhất vào tháng 4 và tháng 8 hàng năm).
3. Đơn vị hành chính:
Hiện nay, Bảo Thắng có 15 xã, thị trấn.
+ Phía hữu ngạn sông Hồng có 5 xã và 01 thị trấn; Sơn Hà, Sơn Hải, Phú Nhuận, Xuân Giao, Gia Phú, thị trấn Tằng Lỏng.
+ Phía tả ngạn sông Hồng có 7 xã và 2 thị trấn; Thị trấn Phố Lu, xã Phố Lu, xã Trì Quang, xã Xuân Quang, xã Phong Niên. Thị trấn Phong Hải, xã Bản Cầm, xã Bản Phiệt, xã Thái Niên.
4. Dân số:
Thời phong kiến, cư dân Bảo Thắng gồm nhiều dân tộc cư trú theo từng bản, từng mường. Các chủ mường này đều thuần phục quan cai trị của các triều đình phong kiến Việt Nam. Thời Minh Mạng, cả Bảo Thắng có 5.000 nhân khẩu, đến năm 1945, Bảo Thắng có khoảng 8.000 dân, có 1.200 người dân tộc Kinh còn chủ yếu là người dân tộc thiểu số. Năm 1960, có trên 13.000 người. Năm 1989, có 86.633 người, gồm 13 dân tộc anh em, trong đó người Kinh chiếm 72,99%, người Tày chiếm 16%, người Dao chiếm 9,6%, người H’Mông chiếm 4,4%, người Dáy chiếm 3,2%, người Nùng chiếm 2,4%, người Xa Phó chiếm 0,49%, còn lại là các dân tộc Phù Lá, Padí, Khơ Me, Thái…Hiện nay, huyện Bảo Thắng có hơn 100 nghìn người với 17 dân tộc anh em cùng chung sống. Các dân tộc cư trú ở Bảo Thắng dù ít hay nhiều người vào những thời gian khác nhau, nhưng đều đoàn kết chung lưng dấu cật bảo vệ và xây dựng vùng biên cương của tổ quốc. Đặc biệt, với quá trình công nghiệp hoá đất nước cơ cấu dân cư trong những thập kỷ qua có nhiều biến đổi theo xu hướng đô thị hoá.